Monday, 15 October 2018

Hans Christian Andersen – Wikipedia tiếng Việt



Hans Christian Andersen (2 tháng 4 năm 1805 – 4 tháng 8 năm 1875; tiếng Việt thường viết là Han-xơ Crít-xtian An-đéc-xen) là nhà văn người Đan Mạch chuyên viết truyện cổ tích cho thiếu nhi. Trong tiếng Đan Mạch, tên ông thường được viết là H.C. Andersen.


Thời niên thiếu và con đường đến với văn[sửa | sửa mã nguồn]


Andersen sinh ra ở Odense, Đan Mạch vào ngày 2 tháng 4 năm 1805. Cha của ông là một thợ đóng giày và mẹ ông là một người chăm chỉ làm lụng để nuôi gia đình của mình.

Cha của Andersen luôn tin rằng ông có thể có mối quan hệ với dòng dõi quý tộc và theo như một nhà thông thái ở Hans Christian Andersen Center, bà nội của ông từng nói rằng gia đình của họ từng là thuộc giai cấp trên trong xã hội[1] Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu chứng tỏ rằng những câu chuyện trên là vô căn cứ[1][2]. Gia đình ông có những mối liên hệ với quý tộc Đan Mạch, nhưng đó chỉ là quan hệ về công việc. Tuy nhiên, có thuyết cho rằng Andersen là một đứa con bất hợp pháp của người trong hoàng tộc còn lại ở Đan Mạch.[1], một sự thật ủng hộ cho thuyết này là vua Đan Mạch đã ưu ái Andersen khi ông còn trẻ tuổi và đã trả các khoản tiền học phí cho ông. Nhà văn Rolf Dorset khẳng định rằng diều đó cũng không chứng minh được đó là khoản thừa kế của Andersen.

Andersen đã biểu lộ trí thông minh và óc tưởng tượng tuyệt vời của mình khi còn là một cậu bé, tính cách đó được nuôi dưỡng bởi sự nuông chiều của cha mẹ và sự mê tín của mẹ ông. Ông thường tự làm cho mình các món đồ chơi, may áo cho các con rối và đọc tất cả các vở kịch, hầu hết là những vở kịch của William Shakespeare và của Ludvig Holberg. Trong suốt thời thơ ấu, ông có một tình yêu nồng nhiệt đối với văn học. Ông được biết đến vì thuộc làu các vở kịch của Shakespeare và tự trình diễn các vở kịch bằng những con rối gỗ. Ông cũng có hứng thú với nghệ thuật nói đùa, và hỗ trợ trong việc đề xướng ra hội những người thích đùa giữa những người bạn của ông.

Năm 1816, cha ông qua đời và cậu bé phải tự đi kiếm sống. Ông làm thợ học dệt vải và cả thợ may, sau đó thì vào làm trong nhà máy thuốc lá.Năm 14 tuổi, Andersen chuyển tới Copenhagen (tiếng Đan Mạch: København) tìm việc làm diễn viên trong các nhà hát. Ông có chất giọng cao và đã được kết nạp vào Nhà hát Hoàng gia Đan Mạch. Sự nghiệp này kết thúc nhanh chóng khi ông vỡ giọng. Một người bạn đã khuyên ông làm thơ. Từ đó, Andersen chuyển hẳn sang viết văn.

May mắn ông đã vô tình gặp được vua Frederik VI của Đan Mạch. Nhà vua rất thích cậu bé kỳ lạ này và đã gửi ông vào một trường học La tinh ở Slagelse.[3]. Trước khi được nhận vào trường học, Andersen đã thành công trong việc xuất bản câu chuyện đầu tiên của ông - The Ghost at Palnatoke's Grave (Bóng ma ở ngôi mộ Palnatoke) vào năm 1822. Mặc dù là một học sinh chậm tiến (có lẽ là không học được) và không thích thú với việc học, Andersen học ở cả Slagelse và ở một trường ở Helsingør cho tới năm 1827[4]
. Andersen sau này đã tả những năm tại Slagelse và Helsingør là những năm đen tối nhất trong cuộc đời vì bị hành hạ khi sống trọ tại nhà người thầy và vì ở cùng các bạn cùng lớp lớn tuổi hơn.


Sự nghiệp văn học[sửa | sửa mã nguồn]


Chân dung tự họa, khoảng năm 1830

Năm 1829, nhà hát kịch hoàng gia đã diễn vở nhạc kịch Kjærlighed paa Nicolai Taarn eller Hvad siger Parterret (Tình yêu ở tháp nhà thờ thánh Nicolas) của Andersen. Những năm tiếp theo, ông lại tiếp tục thành công với các vở diễn và câu chuyện của mình. Ông đã đi chu du khắp châu Âu, qua Đức, Thụy Sĩ, Pháp, Ý... nhưng vẫn giữ được niềm đam mê văn học trong suốt cuộc đời mình. Năm 1831, nhiều tác phẩm tiểu thuyết của ông đã được phát hành. Khi đi chu du, Andersen đã gặp được rất nhiều người nổi tiếng đương thời như Victor Hugo, Heinrich Heine, Honoré de Balzac, Alexandre Dumas cha và cả nhà văn Charles Dickens.

Cảm giác khác biệt, thường kết thúc trong nỗi đau, là một chủ đề quán xuyến thường tái diễn trong công việc của ông. Chuyện này được cho là do cuộc sống nghèo khổ trước kia, tính giản dị và đặc biệt là trong sự thiếu thốn về đời sống tình dục và lãng mạn. Giới tính của ông gây ít nhiều tranh cãi và được bao gồm trong phần sau.

Tuy nhiên, sự hấp dẫn của Andersen lại nằm ở thể loại truyện cổ tích. Năm 1835, ông bắt đầu sáng tác truyện kể nhan đề Chuyện kể cho trẻ em tại Ý. Từ đó, hầu như mỗi năm Andersen cho ra đời một truyện. Ấn bản thứ ba của truyện cổ Andersen, được xuất bản năm 1837, đã mang đến nhiều tác phẩm cổ tích nổi tiếng nhất của ông như "Nàng tiên cá", "Bộ quần áo mới của hoàng đế", "Chú vịt con xấu xí"...
Phong cách sáng tác: giản dị đan xen giữa mộng tưởng và hiện thực


Chân dung Hans Christian Andersen do họa sĩ Franz Hanfstaengl vẽ, tháng 7 năm 1860

Trong nhật ký của mình, Andersen ghi lại là trong thời kỳ mới lớn, ông đã không có quan hệ tình dục với một phụ nữ nào[5][6].
Andersen thường rơi vào tình yêu đơn phương với một số phụ nữ mà không được đền đáp[7]
Tại một thời điểm, ông đã viết trong nhật ký của mình: "Lạy Thiên Chúa Toàn Năng, con chỉ có Chúa mà thôi; Chúa quyết định số phận của con, con phó thác thân con cho Chúa. Xin Chúa hãy ban cho con một sinh kế ! Hãy cho con một cô dâu ! Máu và trái tim con đều ước ao tình yêu[8].
Một cô gái tên Riborg Voigt là đối tượng yêu đơn phương của Andersen thời trai trẻ. Khi Andersen qua đời, người ta đã tìm thấy một túi nhỏ chứa một lá thư dài của Riborg trên ngực của Andersen. Ngoài Riborg Voigt, Andersen cũng đã đơn phương yêu Sophie Ørsted, con gái của nhà vật lý Hans Christian Ørsted, và Louise Collin, con gái út của Jonas Collin, ân nhân của ông.
Truyện Chim họa mi là một biểu hiện bằng văn viết về niềm đam mê của Andersen đối với nữ ca sĩ opera Jenny Lind của Thụy Điển, và đã trở thành nguồn cảm hứng cho biệt danh "Chim họa mi Thụy Điển" của cô. Andersen thường nhút nhát khi tiếp xúc với các phụ nữ nên đã khó ngỏ lời với Jenny Lind. Khi Jenny Lind lên một tàu hỏa để tới dự một buổi hòa nhạc opera, Andersen đã trao cho cô một lá thư tỏ tình; tuy nhiên cô không đáp lại tình yêu của Andersen, mà chỉ coi ông như một người anh kết nghĩa, và năm 1844 cô đã viết cho ông: "... Xin Chúa chúc lành và bảo vệ anh trai của em là mong muốn chân thành của người em gái thân yêu của anh. Jenny. "[9]

Andersen cũng có tình yêu người đồng giới. Ông đã từng viết cho Edvard Collin: "Tôi héo hon vì anh y như một thiếu phụ người xứ Calabria... tình cảm của tôi dành cho anh là tình cảm của một phụ nữ. Nữ tính trong bản chất của tôi và tình bạn của chúng ta phải vẫn là một bí ẩn"[10]. Collin, người thích yêu phụ nữ, đã viết trong hồi ký của mình: "Tôi thấy mình không thể đáp lại tình yêu đó, và điều này đã mang lại cho anh ta nhiều đau khổ."

Tương tự như vậy, niềm say mê của Andersen đối với nam vũ công Harald Scharff của Đan Mạch[11] và Carl Alexander, công tước trẻ nối ngôi của vùng Saxe-Weimar-Eisenach[12], đã không mang lại mối quan hệ nào.

Một số nhà nghiên cứu thì cho rằng không có bằng chứng nào về các quan hệ tình dục như vậy của Andersen, và điều đó cũng hoàn toàn trái với ý tưởng đạo đức và tôn giáo của ông[13].

Do những quan hệ tình cảm của Andersen với vài người nam - như Edvard Collin và Harald Scharff - một vài nhà nghiên cứu về tiểu sử Andersen cho rằng ông là một người đồng tính luyến ái.


Andersen cùng gia đình Moritz Melchior tại ngôi nhà Rolighed (khoảng năm 1867)


Mùa xuân năm 1872, Andersen bị ngã té từ trên giường nằm và bị thương nặng, không thể hồi phục. Ngay sau đó ông bắt đầu tỏ ra có dấu hiệu của bệnh ung thư gan, và qua đời vào ngày 04.8. 1875, trong ngôi nhà mang tên "Rolighed" (Sự Yên Tĩnh) gần Copenhagen của vợ chồng người bạn thân Moritz Melchior, chủ một ngân hàng[14]. Ngay trước khi qua đời, ông đã nhờ một nhà soạn nhạc viết bài hành khúc đưa tang cho đám tang của mình, và nói: "Phần lớn những người đi sau quan tài của tôi sẽ là các em thiếu nhi, vì vậy hãy dùng nhịp điệu với những bước nhỏ"[14].

Andersen được mai táng trong Nghĩa trang Assistens ở quận "Nørrebro" của Copenhagen.
Vào thời điểm từ trần, Andersen đã nổi tiếng ở trong nước và khắp thế giới. Ngay trước khi ông qua đời, đã tiến hành các bước đầu trong việc dựng một bức tượng lớn để vinh danh ông do nhà điêu khắc August Saabye thực hiện. Bức tượng này ngày nay được đặt trong "Vườn của Nhà Vua" (Kongens Have) ở Copenhagen.[15]


Tem thư in hình Andersen của Đan Mạch, năm 1935


  • Giải Hans Christian Andersen do "Ban Quốc tế về Sách cho giới trẻ" thiết lập, được trao 2 năm một lần cho tác giả và họa sĩ minh họa của các tác phẩm văn học thiếu nhi xuất sắc[16].

  • Giải Văn học Hans Christian Andersen, một giải thưởng dành cho các nhà văn quốc tế,được thành lập từ năm 2010

  • Những truyện của Andersen đã đặt nền tảng cho các truyện thiếu nhi kinh điển khác, chẳng hạn như Wind in the Willows của Kenneth Grahame và Winnie the Pooh của A.A. Milne.

  • Kỹ thuật chế tạo vật bất động - chẳng hạn như đồ chơi - trở thành sống động (ví dụ các hoa của Little Ida) sau này đã được Lewis Carroll và Beatrix Potter sử dụng.

  • Ngày 2 tháng 4 hàng năm - ngày sinh của Andersen - là Ngày Sách Thiếu nhi Quốc tế[17].

  • Năm 2005 - kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Andersen - được Đan Mạch gọi là "Năm Andersen" [18], và được nhiều nước trên thế giới tưởng niệm. Ở Đan Mạch, một show "Một lần trong cuộc đời" (Once in a lifetime) được tổ chức tại Sân vận động Parken của Copenhagen để tưởng niệm nhà văn Andersen và các tác phẩm của ông[18].

  • Một công viên giải trí ở Thượng Hải (Trung Quốc) trị giá 13 triệu dollar Mỹ, có các trò chơi dựa trên các truyện của Andersen đã được khai trương vào cuối năm 2006[19]. Các khách trẻ tới thăm công viên này có thể chơi và thi đấu các trò chơi liên quan tới các truyện thần kỳ của Andersen.

  • Thành phố Funabashi của Nhật Bản cũng có một công viên giải trí dành cho thiếu nhi mang tên Andersen.[20]

  • Tại Hoa Kỳ có các tượng Andersen ở Công viên Trung tâm của thành phố New York, ở Công viên Lincoln của thành phố Chicago và ở Solvang, California - một thành phố do các người Đan Mạch lập nên.

  • Phân ban sưu tập Sách hiếm của Thư viện Quốc hội Mỹ có bộ sưu tập các tác phẩm của Andersen do diễn viên người Mỹ gốc Đan Mạch Jean Hersholt hiến tặng[21], trong đó có một quyển scrapbook[22] do Andersen và Adolf Ludvig Drewsen (1803-1885) làm cho chàng trai trẻ Jonas Drewsen.[23]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]


  • Vai Andersen trong phim Chim họa mi Thụy Điển (1941) (Die schwedische Nachtigall) của Đức do nam diễn viên Joachim Gottschalk diễn xuất, mô tả mối quan hệ giữa Andersen với nữ ca sĩ opera Jenny Lind của Thụy Điển.

  • Bộ phim Hans Christian Andersen (1952) của Mỹ, mặc dù lấy cảm hứng từ cuộc sống và di sản văn học của Andersen, được cho là không đúng với tiểu sử của Andersen cũng như bối cảnh lịch sử; bộ phim này bắt đầu bằng cách nói rằng "Đây không phải là câu chuyện về cuộc sống của Andersen, nhưng là một câu chuyện thần kỳ về người sáng tạo vĩ đại ra những chuyện thần kỳ".

  • Phim Hans Christian Andersen: My Life as a Fairytale năm 2003 của đạo diễn người Anh Philip Saville tương đối sát với tiểu sử của Andersen hơn.

  • Andersen là một nhân vật quan trọng trong tập "Metal Fish" ở loạt phim truyền hình hoạt họa The Little Mermaid (Nàng tiên cá) của Cty truyền hình "Walt Disney".

  • Năm 1966, hãng Rankin/Bass Productions sản xuất một phim tưởng tượng gọi là The Daydreamer (Người mơ mộng hão huyền), mô tả chàng trai trẻ Hans Christian Andersen hình dung ra trong trí những chuyện mà chàng sẽ viết sau này.

Hình minh hoạ truyện cổ Andersen

H.C. Andersen xuất bản tác phẩm đầu tiên Ungdoms-Forsøg (Sự thử cố gắng của Tuổi trẻ) vào năm 1822[24] khi lên 17 tuổi. Sách này được xuất bản dưới bút danh Villiam Christian Walter. Bút danh này được ghép từ chữ Villiam theo tên văn hào William Shakespeare, Christian là tên của ông và Walter theo tên nhà văn Walter Scott.[25] Tác phẩm này được tái bản năm 1827 dưới tên "Gjenfærdet ved Palnatokes Grav" (Bóng ma ở ngôi mộ của Palnatoke)[26].


Kịch[sửa | sửa mã nguồn]


  • Mulatten (Người lai giữa da trắng và da đen), kịch lãng mạn gồm 5 hồi (1840) info

  • Maurerpigen (Cô gái người maurer), Bi kịch 5 hồi (1840) info

Truyện thần kỳ[sửa | sửa mã nguồn]


Tiểu thuyết[sửa | sửa mã nguồn]


  • "At være eller ikke være" (Hiện hữu hay không hiện hữu) info

  • "De to Baronesser" (Hai bà nam tước) info

  • "Improvisatoren" (Người ứng tác) info

  • Kun en Spillemand (Chỉ một người chơi) info

  • "Lykke-Peer" (Peer hạnh phúc) info

  • "O. T." (viết tắt của tên Otto Thostrups, nhân vật chính và "Odense Tugthus" = nhà trừng giới Odense) info

Ký sự du hành[sửa | sửa mã nguồn]


  • "En Digters Bazar" (Tiệm tạp hóa của nhà thơ) info

  • "Et Besøg i Portugal 1866" (Cuộc viếng thăm Bồ Đào Nha năm 1866) info

  • "I Spanien" (Ở Tây Ban Nha) info

  • "I Sverrig" (Ở Thụy Điển) info

  • "Skyggebilleder af en Reise til Harzen, det sachsiske Schweitz etc. etc., i Sommeren 1831" (Những hình bóng của chuyến đi tới vùng Harz (Đức), một Thụy Sĩ của vùng Sachsen vv...) info

Tự truyện[sửa | sửa mã nguồn]


Thơ[sửa | sửa mã nguồn]


Ông được sánh ngang với những bậc danh nhân văn hóa của nhân loại. Tác phẩm của ông được dịch ra 90 thứ tiếng, xuất bản gần 500 lần với hơn 70000000 bản [27]. Đó là những cuốn sách bán chạy nhất hành tinh.

Sau đây là lời nhận định của các nhà nghiên cứu Việt Nam về Anđécxen: "Bằng sức mạnh của ngôn từ hiếm có, trí tưởng tượng nhiệm màu mà trong sáng, cốt truyện hấp dẫn, lối kể chuyện có duyên, pha lẫn giữa bút pháp hiện thực và huyền ảo, tác phẩm của Anđécxen đã đạt đến sự hoàn hảo của một nghệ sĩ "độc nhất vô nhị, trước và sau ông chưa hề có". " [27]

Nhà văn Nga Pautôpxki nhận định: " Trong mỗi truyện cổ tích cho trẻ con của Anđécxen còn có một truyện cổ tích khác mà người lớn mới có thể hiểu hết ý nghĩa của nó". [28]



  1. ^ a ă â Rossel 1996, tr. 6

  2. ^ Askgaard, Ejnar Stig. “The Lineage of Hans Christian Andersen”. Odense City Museums. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2012. 

  3. ^ Hans Christian Andersen - Childhood and Education. Danishnet.

  4. ^ “H.C. Andersens skolegang i Helsingør Latinskole”. Hcandersen-homepage.dk. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2010. 

  5. ^ Lepage, Robert (ngày 18 tháng 1 năm 2006). “Bedtime stories”. The Guardian. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2006. 

  6. ^ Recorded using "special Greek symbols".Garfield, Patricia (ngày 21 tháng 6 năm 2004). “The Dreams of Hans Christian Andersen” (PDF). tr. 29. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2006. 

  7. ^ Hastings, Waller (ngày 4 tháng 4 năm 2003). “Hans Christian Andersen”. Northern State University. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2012. 

  8. ^ “The Tales of Hans Christian Andersen”. Scandinavian.wisc.edu. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2010. 

  9. ^ “H.C. Andersen homepage (Danish)”. Hcandersen-homepage.dk. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2010. 

  10. ^ Hans Christian Andersen's correspondence, ed Frederick Crawford6, London. 1891.

  11. ^ de Mylius, Johan. “The Life of Hans Christian Andersen. Day By Day”. Hans Christian Andersen Center. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2006. 

  12. ^ Pritchard, Claudia (ngày 27 tháng 3 năm 2005). “His dark materials”. The Independent. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2006. 

  13. ^ “Hans Christian Andersen – FAQ”. 

  14. ^ a ă Bryant, Mark: Private Lives, 2001, p. 12.

  15. ^ Bredsdorff 1975

  16. ^ "Hans Christian Andersen Awards", International Board on Books for Young People

  17. ^ “International Children's Book Day”. International Board on Books for Young People. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2012. Since 1967, on or around Hans Christian Andersen's birthday, 2 April, International Children's Book Day (ICBD) is celebrated to inspire a love of reading and to call attention to children's books. 

  18. ^ a ă Brabant, Malcolm (ngày 1 tháng 4 năm 2005). “Enduring legacy of author Andersen”. BBC News. BBC. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2012. 

  19. ^ China to open Andersen theme park, BBC News, ngày 11 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2008.

  20. ^ “Chiba Sightseeing Spots”. Chiba Prefectional Government. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2011. 

  21. ^ “Jean Hersholt Collections.”. Loc.gov. Ngày 15 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2010. 

  22. ^ quyển vở có các trang trống, để dán những bài hoặc hình cắt từ báo ra

  23. ^ "Billedbog til Jonas Drewsen." (ngày 15 tháng 4 năm 2009) Retrieved ngày 2 tháng 11 năm 2009.

  24. ^ [1]

  25. ^ “Om H.C. Andersen”. Odense Bys Museer. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2012. 

  26. ^ (link til digital udgave)

  27. ^ a ă Bài giảng Văn học thiếu nhi - Nhà xuất bản Đại học Huế, trang 123

  28. ^ Bài giảng Văn học thiếu nhi - Nhà xuất bản Đại học Huế, trang 122


Smells Like Teen Spirit – Wikipedia tiếng Việt


"Smells Like Teen Spirit" là một bài hát của ban nhạc rock Mỹ Nirvana. Đây là bài hát đầu tiên và đĩa đơn đầu tiên từ album năm 1991 Nevermind và được đánh giá là đã giúp cho thế giới biết đến Nirvana và nhạc grunge.

Bài hát đã giữ vị trí số một trong nhiều tuần trong bảng xếp hạng trên khắp thế giới vào năm 1991. Tại bảng xếp hạng 100 bài hay nhất của tạp chí Billboard, bài hát đã đứng vị trí số 6. Nó cũng là đĩa đơn được bình chọn là hay nhất của năm trong cuộc thăm dò dư luận Jazz & Pop của The Village Voice. Cuốn video của bài hát đã làm ban nhạc đoạt giải "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất" và giải "Nhóm nhạc Alternative xuất sắc nhất" tại lễ trao Giải Video âm nhạc của MTV năm 1992.

Vào năm 2004, tạp chí Rolling Stone đã xếp hạng "Smells Like Teen Spirit" thứ 9 trong danh sách 500 bài hát hay nhất mọi thời đại. Vào năm 2000, sách Kỷ lục Guinness đã ghi bài hát này là bài có Video được chiếu nhiều nhất ở MTV Châu Âu. Vào năm 2002, bài hát có trong một đoạn phim tài liệu nhiều tập SBS, Sự ảnh hưởng: Những bài hát thay đổi thế giới. Lời bài hát cũng giữ vị trí thứ 3 trên kênh VH1 UK Lời bài hát ưa thích của quốc gia vào năm 2006.


Trong khi giai điệu và hoà âm đơn giản, nó nổi bật với ca từ buồn, tối thiểu, theo dòng ý thức dâng lên thành một dàn hợp xướng dữ dội, và giọng hát của Kurt Cobain thay đổi từ u sầu êm dịu sang gào thét nguyên sơ.

Vào tháng 1 năm 1994, trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Rolling Stone, Kurt thú nhận rằng "Smells Like Teen Spirit" là một cố gắng để viết một bài hát giống các bài của ban nhạc Pixies: "Tôi đã cố gắng để viết một bài hát nhạc pop. Tôi chỉ cơ bản là cố gắng làm giống như Pixies. Tôi phải công nhận điều này." Anh cũng đồng thời nói về những điều anh chưa ưng ý trong bài hát, phần lớn là do những thành công của nó, và bài hát "Drain You", cũng có trong cùng album, cũng được "khẳng định là hay như 'Teen Spirit'."

Nhiều người xem "Smells Like Teen Spirit" là thánh ca của thập kỉ 90, thậm chí là thánh ca của một thế hệ[cần dẫn nguồn].


Trong Heavier Than Heaven, cuốn sách do Charles Cross viết về tiểu sử của Kurt Cobain, đã có một cuộc tranh luận về việc bài hát do Kurt sáng tác hay do Tobi Vail sáng tác.[1] Việc tranh luận này dựa trên những lời bài hát đã có trên bản thảo, mà có thể đọc lại được trong tờ Journals của Kurt như "Why don't you cry when I'm away / Oh yeah we want what's best for you" and "Who will be the King & Queen of the outcasted [sic] teens".[2]

Dẫu sao thì Kurt cũng đã không nghĩ rằng bài hát có ý nghĩa đặc biệt gì. Trong một cuộc phỏng vấn của MTV anh đã nói rằng: "Tôi chỉ thấy rằng mọi người đang mong đợi...một chủ đề nào đó, không chỉ là âm nhạc của chúng tôi, các bạn biết đấy - họ thường muốn đọc nó. Và ngay trước khi tôi sử dụng những lời thơ này, chỉ là trích dẫn, chỉ là phương tiện để có thể diễn tả những giai điệu chợt đến trong tôi lúc đó, và trong nhiều lần tôi viết lời bài hát, đó chỉ là vào những giây phút cuối cùng vì tôi thực sự rất lười... và sau đó thì tôi phải tự mình nắm bắt được lời giải thích..."

Cobain đã không sử dụng ví dụ này dẫn chứng cho việc các lời bài hát của anh trống rỗng, mà để chứng minh rằng bài hát không cần thiết phải có một chủ đề bao quát (ví dụ như "Smells Like Teen Spirit" cần phải có nội dung về sự tan rã hay về một cuộc cách mạng).


"Teen Spirit" là một nhãn hiệu chất khử mùi của hãng Colgate-Palmolive, Mỹ[3]. Cobain đã đặt tên bài hát khi người bạn là Kathleen Hanna, người hát chính cho ban nhạc punk Bikini Kill vào thời gian đó, đã phun sơn lên tường nhà Kurt dòng chữ "Kurt smells like Teen Spirit". Cobain bắt đầu lấy nó như là một khẩu hiệu cốt lõi cho bài hát từ khi họ bắt đầu thảo luận về tình trạng vô chính phủ, nhạc punk rock và những chủ đề tương tự. Tuy nhiên, ý nghĩa của nó là Kurt chỉ đơn giản cảm thấy giống như một loại chất khử mùi nào đó mà Tobi Vail, thành viên trong ban nhạc Hanna, và bạn gái của Kurt khi đó đang sử dụng. Cobain có nói rằng anh không biết đó là nhãn hiệu chất khử mùi và anh cảm thấy không vui vì bài hát có mang tên một sản phẩm thương mại.

Vài tháng sau khi bài hát đã nổi tiếng, Colgate-Palmolive đã làm một chiến dịch quảng cáo để kiếm tiền từ mối liên hệ này. Một chương trình thương mại trên ti vi có dòng chữ "Do you smell like teen spirit?" và "Deodorant made for your generation".


Video âm nhạc được đạo diễn bởi Samuel Bayer, người mà sau đó cũng đã làm các video thu trực tiếp khác cho các hoạt động nhạc rock đáng nhớ của ban nhạc Green Day.

Video có cảnh ban nhạc đang chơi tại một nhà thi đấu của trường trung học, nhiều người bao vây xung quanh, mặc những bộ áo dài màu đen với biểu tượng Circle-A thay cho lô gô của trường. (Vị trí của biểu tượng thì ám chỉ tới cuốn tiểu thuyết The Scarlet Letter). Cuốn video kết thúc với việc các "sinh viên" tập hợp lại và cùng biểu diễn ăn khớp với ban nhạc.

Trong video cũng có nhân vật chưa được biết đến Burton C. Bell, và sau này anh đã trở nên thành một ca sĩ nổi tiếng trong ban nhạc Fear Factory.


Bài hát đã được nhiều nghệ sĩ hát lại như Tori Amos trong đĩa Crucify EP, ban nhạc jazz The Bad Plus và ban nhạc nghệ thuật công nghiệp Xorcist. Vào năm 2005, bài hát đã được hát lại theo kiểu nhạc nhạc swing do ngôi sao nhạc thập kỷ 50 Paul Anka biểu diễn. Một phiên bản chơi bằng nhạc cụ đã được sản xuất bởi Cúp Vô địch thế giới về Đấu vật như là một bản nhạc khởi động cho đô vật Diamond Dallas Page. Bài hát cũng đã có trong cabaret ở bộ phim làm năm 2001 Moulin Rouge!.

Vào năm 1992, bài hát đã bị nhại lại và được viết bởi "Weird Al" Yankovic với cái tên "Smells Like Nirvana", một bài hát về chính ban nhạc Nirvana. Bản nhạc này của Weird Aldy viết về những khó khăn để có thể hiểu được lời của Cobain. Theo cả Kurt và Yankovic, khi được hỏi là anh có hài lòng với việc này của Yankovic với bài hát không, Kurt đã hỏi lại, "điều đó không phải là làm về các món ăn có phải không?" (câu hỏi này liên quan tới một vài bản nhạc chế nhạo trước đây của Yankovic mà phần lớn có từ "Eat It" (nghĩa là "hãy ăn đi")). Kurt đã thừa nhận trong một vài cuộc phỏng vấn là rất thích sự nhại lại này. Trong một quyển sổ nhật ký đã được xuất bản sau đó ở Journals, Kurt đã mô tả "Weird Al" như là một thứ gần nhất với nhạc punk rock. Thành viên Krist Novoselic sau đó đã nói ban nhạc nhận ra rằng họ đã trở thành những ngôi sao nhạc rock khi Weird Al chế nhạo lại họ.


Cũng như sự nhại lại của Weird Al đã được nhấn mạnh, lời bài hát mà Cobain hát thường làm người nghe khó giải nghĩa được, là do sự vô lý của nội dung bài hát và giọng hát luyến chữ và trong yết hầu của Cobain. Điều này được kết hợp bởi thực tế rằng trong album Nevermind không có lời của bài hát, bài hát chỉ là những đoạn lời dược ghép lại. Các lời bài hát của album (một vài có từ trước đây hoặc trong các phiên bản của bài hát) cuối cùng cũng đã có trong đĩa đơn Lithium.

Xem ở đây về ví dụ cho những lời bài hát bị nghe nhầm.

Một sự nhầm lẫn đã bị bắt gặp khi MTV đã chuẩn bị một phiên bản của video bao gồm cả lời bài hát chạy ở phía dưới màn hình trong lúc bài hát được phát trên sóng truyền hình.

Một vài phiên bản cover đã làm cho lời bài hát thực rõ ràng hơn, như là trong Tori Amost, piano-driven cover.


Nirvana hay đổi lời bài hát và điều chỉnh tốc độ chơi nhạc khi biểu diễn trực tiếp. Phần lớn trong các buổi diễn này, câu "our little group has always been" đã bị đổi thành "our little tribe has always been", và có thể nghe thấy trong album From the Muddy Banks of the Wishkah.


"Smells Like Teen Spirit" được biểu diễn trước công chúng lần đầu vào ngày 17 tháng 4 năm 1991 tại OK Hotel ở Seattle. Nhiều phần của buổi diễn này có thể được xem lại trong album Nevermind Classic Albums DVD, With the Lights Out và phim tài liệu Hype! Lời bài hát chưa được viết trọn vẹn cho nên có một chút khác biệt với phiên bản cuối cùng. Ví dụ, trong buổi trình diễn đầu tiên thì bài hát được bắt đầu với câu "Come out and play, make up the rules" còn trong buổi diễn cuối cùng là câu "Load up on guns, bring your friends".

Một buổi diễn đáng nhớ khác được phát trên chương trình Top of the Pops của đài BBC, trong chương trình này, người thủ lĩnh Kurt Cobain đã hát một cách chậm, khoan thai, âm điệu buồn thảm, một sự phản đối những đòi hỏi của buổi diễn rằng ban nhạc không được chơi nhạc sống và yêu cầu phải thay đổi hai dòng đầu tiên trong bài hát thành "Load up on drugs, kill your friends" (lời cũ là "Load up on guns, bring your friends"). Sau đó anh đã nói rằng đó là một sự kính trọng tới Morrissey, người thủ lĩnh của ban nhạc The Smiths. Buổi diễn này có thể được xem lại trong cuốn băng video gia đình Live! Tonight! Sold Out!!.


  1. "Smells Like Teen Spirit" (Cobain, Grohl, Novoselic) - 4:30

  2. "Even in His Youth" (Cobain, Grohl, Novoselic) - 3:03

  3. "Aneurysm" (Cobain, Grohl, Novoselic) - 4:44

Bài "Aneurysm" không có trong băng cassette.

Phiên bản phát hành của "Smells Like Teen Spirit" là đĩa đơn đã được biên tập lại, bỏ đi khoảng 30 giây so với phiên bản có trong album. Đặc biệt, hai phần nhắc lại của đoạn nhạc chính trong phần đầu bài hát đã được bỏ đi so với phiên bản có ghi ta chơi sô lô.

Đĩa đơn tại Mỹ đã có một sai lầm nhỏ trong việc ghi thời lượng của bài hát "Even in His Youth" là 4:20. Việc này được coi như là một chuyện đùa trong nội bộ ban nhạc để nhắc tới việc hút cần sa.


  • Vị trí thứ nhất về đĩa đơn của năm do tạp chí Melody Maker bình chọn (1991)

  • Vị trí thứ 2 về dĩa đơn do tạp chí Rolling Stone bình chọn (1991)

  • Vị trí thứ nhất trong danh sách 100 bài nhạc Rock hay nhất mọi thời đại do tạp chí Kerrang! bình chọn (1999)

  • Vị trí thứ nhất trong danh sách các đĩa đơn hay nhất mọi thời đại do tạp chí Kerrang! bình chọn (2002)

  • Vị trí thứ 9 trong danh sách 500 bài hát hay nhất mọi thời đại do tạp chí Rolling Stone bình chọn (2002)

  • Vị trí thứ nhất trong danh sách 100 bài hát hay nhất trong 25 năm qua trên kênh VH1 (2003)

Formosa – Wikipedia tiếng Việt


Hình tượng định hướng
Trang định hướng này liệt kê những bài viết liên quan đến tiêu đề Formosa.
Nếu bạn đến đây từ một liên kết trong một bài, bạn có thể muốn thay đổi liên kết trỏ trực tiếp đến bài viết dự định.

Hoạn quan – Wikipedia tiếng Việt



Hoạn quan (chữ Nho: 宦官) hay quan hoạn là người đàn ông do khiếm khuyết ở bộ phận sinh dục nên không thể có gia đình riêng, được đưa vào cung kín vua chúa để hầu hạ những việc cẩn mật.

Họ có thể là bẩm sinh có dương vật nhưng không có tinh hoàn, hoặc không có cả dương vật lẫn dịch hoàn, hoặc mất đi do việc hủy hoại hay làm tổn thương đến bộ phận sinh dục.

Có nhiều tên gọi để chỉ hoạn quan: thái giám (太監), công công (公公), tự nhân (寺人), yêm nhân (閹人), nội thị (內侍), thị nhân, yêm hoạn, hoạn giả, trung quan, nội quan, nội thân, nội giám...


Trong lịch sử Trung Quốc, hoạn quan đã có từ thời Tây Chu, đương thời gọi là tử nhân, hoặc hạng nhân, yêm doãn, nội tiểu thần.[1] Được tuyển dụng để làm một số công việc cung đình: truyền lệnh của nhà vua đến các quan, canh gác hậu cung, quét dọn phòng ốc, liên lạc giữa nhà vua với các cung phi... Vào thời Tây Chu các nước Tề, Sở, Tần, đều có hoạn quan, và gọi bằng các tên như hình thần, ty cung. Thời Chiến Quốc nước Triệu có Hoạn giả lệnh coi về hoạn quan. Nước Tần có hoạn quan đảm nhận chức Xa phủ lệnh. Sau khi Tần thống nhất Trung nguyên, hoạn quan có người làm đến Thừa tướng, gọi là Trung thừa lệnh. Thời Tây Hán, các hoạn quan được gọi là thường thị có những hoạn quan đảm nhận các chức Hoàng môn lệnh, Dịch đình lệnh. Đến nhà Đường đổi là trung quan.[2]

Tại các triều nhà Tùy, nhà Đường, nhà Tống đặt ra cơ cấu Nội thị tỉnh do hoạn quan đảm nhiệm, trông coi các việc nội bộ ở trong cung đình. Hoạn quan ở hai triều Đường, Tống có người trực tiếp thống lãnh quân đội. Đến đời nhà Minh, đặt ra Thập nhị giám, Tứ ty, Bát cục gọi là Nhị thập tứ nha môn, trông coi về việc phục dịch trong cung đình, mỗi cơ cấu có thái giám trông coi. Đến đời nhà Thanh có Tổng quản thái giám, người đứng đầu thái giám, trực thuộc Nội vụ phủ.

Hoạn quan vốn chỉ là quan trong nội đình, không có quyền can dự chính sự, nhưng là người hầu cận thường ngày gần nhất của hoàng đế, được hoàng đế tin dùng, nên có khả năng lộng quyền, nắm được đại quyền chính trị, thậm chí có thể phế lập hoàng đế. Dưới các triều Đông Hán, Đường, Minh đều từng xảy ra những việc hoạn quan chuyên quyền làm bậy.

Chữ Hán, có hơn ba mươi từ ngữ dùng để chỉ hoạn quan, nên thường giải thích hoạn quan là thái giám. Nhưng kỳ thực, khái niệm về hai từ ngữ này có chỗ khác biệt. Mới đầu hoạn quan không nhất thiết phải là người bị thiến. Trong lịch sử Trung Quốc cổ xưa đã có hoạn quan. "Hoạn quan" chỉ là danh xưng chỉ chung những quan viên phục dịch, hầu hạ hoàng đế và gia tộc trong hoàng cung. Cho đến đầu đời nhà Đông Hán, khi Lưu Tú quang phục lại Hán thất, mới ban lệnh hoạn quan tất yếu phải là người đàn ông bị thiến. Trước đó, thời Hán Võ Đế, năm 99 trước Công nguyên, khi Lý Lăng thua trận đầu hàng Hung Nô, Tư Mã Thiên vì bênh vực Lý Lăng mà bị thiến và tuy là người bị thiến nhưng Tư Mã Thiên không phải là hoạn quan.

Từ ngữ "thái giám" xuất hiện sớm nhất vào đời Đường Cao Tông Lý Trị năm Long Sóc nhị niên, tức năm 662, khi đem thay đổi danh xưng "Điện trung tỉnh", cơ cấu chuyên lo việc xa giá, y phục trong hoàng cung thành "Trung ngự phủ", và cải "Giám thành trung ngự" thành "thái giám" và "thiếu giám".

Đến đầu đời nhà Minh thiết lập "Nhị thập tứ nha môn", mỗi nha môn đặt ra một thái giám giữ ấn tín phục dịch hoàng đế cùng gia thuộc, và người được giữ chức thái giám tất yếu phải là hoạn quan. Từ đấy "thái giám" thành danh xưng chuyên chỉ hoạn quan. Đến giữa thời kỳ nhà Minh, quyền thế của thái giám được mở rộng thêm ra. Thái giám có quyền làm sứ giả, trông coi quân đội, coi xét quan lại, dân tình nên trở thành lộng quyền.

Đến đời nhà Thanh, xét thấy sự chuyên hoành và tệ hại của thái giám mới đặt ra chức "Tổng quản Thái giám" làm thủ lĩnh, lệ thuộc vào "Nội vụ phủ" và giới hạn tước vị đến "tứ phẩm" để nhằm làm giảm quyền lực của thái giám.

Theo các nhà nghiên cứu, nguồn gốc hoạn quan ở Trung Quốc có ba nguyên nhân chủ yếu sau đây:


  • Hoạn quan là những tội phạm, tù binh hoặc phản nghịch bị cắt sinh thực khí.

  • Hoạn quan là cống phẩm của địa phương tiến cống vào cung đình.

  • Tự nguyện xin thiến làm hoạn quan để mưu cầu phú quý.

Một số phương pháp yêm cát[sửa | sửa mã nguồn]


Yêm cát thư (Giấy chứng nhận đã bị hoạn)


Loại trừ những người đã khiếm khuyết khi sinh ra, một hoạn quan phải qua một "thủ thuật" hết sức đau đớn gọi là "yêm cát", "cung hình", "tàm thất", "hủ hình" hay "âm hình". Việc yêm cát như thế nào, sử sách ghi chép bất nhất. Theo Nam tinh thái giám khốc hình thì ghi lại có 4 phương pháp để thiến con trai:


  • Cắt toàn bộ âm kinh và dịch hoàn

  • Chỉ cắt bỏ dịch hoàn

  • Đè cho vỡ nát dịch hoàn

  • Cắt bỏ ống dẫn tinh

Theo sách Mạt đại thái giám bí văn còn liệt kê một phương pháp thiến nữa là "thằng hệ pháp", tức dùng dây cột chặt dịch hoàn của đứa bé, lâu dần thực khí mất công năng, bị chết đi. Hoặc cho đứa trẻ uống một thứ thuốc tê gọi là ma tuý dược, rồi dùng kim chích hoài vào dịch hoàn đứa trẻ khiến cho sinh thực khí không còn công năng nữa.

Carter Stent miêu tả về việc cát thể ở Trung Hoa cuối đời Mãn Thanh như sau:


Trước khi cát thể, người có ý định trở thành thái giám được đặt nằm nghiêng trên một cái giường thấp và được hỏi lần cuối cùng có hối hận gì khi bị thiến hay không. Nếu người đó trả lời không thì một người sẽ giữ chặt bụng người đó, hai người khác banh hai chân ra giữ cho khỏi cục cựa. Băng vải được quấn chặt ở bụng dưới và hai đùi và bệnh nhân được cho uống một thang thuốc mê (ma phế thang), bộ phận sinh dục của y được chà xát bằng nước ngâm ớt. Cả dương vật lẫn dịch hoàn được cắt xoẹt bằng một nhát dao sát tận đáy, một nút bằng kim loại cắm ngay vào lỗ sinh thực khí và vết thương được băng chặt bằng giấy bản, bên ngoài quấn vải thật chặt.
Người thái giám lập tức được những "đao tử tượng" dìu đi quanh phòng trong hai ba giờ liền trước khi được quyền nằm nghỉ. Người đó vừa đau đớn, vừa khát nước nhưng không được ăn uống và tiểu tiện trong ba ngày. Sau ba ngày, vải băng được cởi ra và cái nút được rút ra và nếu bệnh nhân có thể đi tiểu được ngay thì cuộc giải phẫu thành công và qua được thời kỳ nguy hiểm. Nếu người thái giám không tiểu tiện được có nghĩa là đường sinh thực khí đã bị thu hẹp hay bịt kín và chỉ còn đường chờ chết...

Thế nhưng việc tĩnh thân để thành thái giám không phải chỉ trong việc cắt bỏ bộ phận sinh dục mà thôi. Có gia đình chuẩn bị việc cho con mình tương lai sẽ làm thái giám tử khi còn nhỏ. Một bà vú (bảo mẫu) thuê để đặc biệt chăm sóc cho đứa trẻ ngay từ khi còn nằm trong nôi. Bà vú này có một thủ thuật riêng, mỗi ngày ba lần nắn bóp dịch hoàn đứa trẻ khiến đứa bé đau đến khóc thét lên. Lực bóp cũng tăng thêm và cơ quan sinh dục của đứa bé dần dần bị hủy hoại. Khi lớn lên không những mất khả năng sinh dục mà dương vật còn teo dần khiến đứa trẻ có nhiều nữ tính, không có yết hầu, hai vú nhô cao, mông nở, giọng nói lanh lảnh, dáng điệu ẻo lả và trở thành "ái nam, con gái"

Năm 1996, Tôn Diệu Đình (孫耀庭 Sun Yaoting), vị hoạn quan cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Hoa qua đời, đặt dấu chấm hết cho hiện tượng hoạn quan của Trung Quốc.




Mặc dầu văn hóa Việt Nam và văn hoá Trung Hoa có rất nhiều tương đồng, tương cận nhưng tại Việt Nam hầu như ít có những thái giám khuynh loát triều chính như ở Trung Hoa, trái lại có khá nhiều danh thần xuất thân từ hàng yêm hoạn.

Người hoạn quan thứ nhất nổi danh trong lịch sử Việt Nam là Lý Thường Kiệt đời nhà Lý với chiến công "phá Tống bình Chiêm".

Người hoạn quan thứ hai cũng rất tiếng tăm là Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc làm quan dưới đời vua Lê Hiển Tông, đã cùng Phạm Đình Trọng dẹp yên hai cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu và Nguyễn Danh Phương, khi về hưu được phong làm Quốc lão. Về sau ông đem đại quân đánh vào Phú Xuân, bắt được Trương Phúc Loan rồi trấn thủ Thuận Hóa, chấm dứt một giai đoạn phân tranh Nam – Bắc kéo dài hơn 200 năm.

Người thứ ba là Tả quân Lê Văn Duyệt khai quốc công thần triều Nguyễn mà nay mộ của ông tại Bà Chiểu, Gia Định vẫn là một đền thờ được dân chúng chiêm bái gọi là Lăng Ông. Lê Văn Duyệt tuy cũng xuất thân hoạn quan nhưng ông bản chất là người ái nam con gái chứ không phải tự thiến để thành quan thị như Việt Quốc công Lý Thường Kiệt hay Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc.

Ở Việt Nam, hoạn quan được ghi nhận là có từ thời nhà Lý, đến triều Nguyễn, hoạn quan được chia làm năm trật:


  • Quản vụ Thái giám và Điển sự Thái giám.

  • Kiểm sự Thái giám và Phụng nghi Thái giám.

  • Thừa vụ và Điển nô Thái giám.

  • Cung sự và Hộ nô Thái giám.

  • Cung phụng và Thừa biện Thái giám.

Việc kén chọn hoạn quan ưu tiên tuyển những trẻ em "ái nam con gái" do lệnh của triều đình. Người dân nào sinh con có khuyết tật đó được quan sở tại tới khám xét rồi làm sớ tâu lên. Cha mẹ đứa bé sẽ nuôi con đến lúc 13 tuổi, sau đó Bộ Lễ sẽ đưa vào cung tập sự hoạn quan. Làng nào có hoạn quan tiến cử được miễn binh lính, phu phen tạp dịch và cả sưu thuế. Nếu không có đủ số trẻ ái nam con gái, thanh niên nào tự nguyện thiến bộ phận sinh dục sẽ được tuyển chọn. Tuy nhiên, thái giám Việt Nam chỉ là một số nhỏ không được trọng vọng lại chỉ được làm những việc lặt vặt chưa thành hẳn một tầng lớp có ảnh hưởng như Trung Hoa. Theo chỉ dụ của vua Minh Mạng, thái giám không được dự vào phẩm hàm hay quan chức triều đình và chỉ được hầu hạ trong cung mà thôi, cũng có thể nhà vua không muốn xảy ra việc hoạn quan chuyên quyền như Trung Hoa hay vì đố kỵ với Tả quân Lê Văn Duyệt trong vụ nổi loạn thành Phiên An. Tấm bia khắc là toàn văn bản dụ này nay vẫn còn trong Văn Miếu, Huế. Thái giám cũng có riêng một nghĩa trang trong khuôn viên chùa Từ Hiếu, cách Huế khoảng 1 km theo hướng tây nam và vì thế chùa này còn được gọi là chùa Thái Giám.

Trong một số thời kỳ, nước Việt phải đem cống sang Tàu một số người tài giỏi, sau đó bị trở thành hoạn quan. Theo Hoàng Minh thông ký, một hoạn quan người Việt là Nguyễn An đã vẽ kiểu tu tạo thành Bắc Kinh bao gồm 9 cửa, 2 cung, 3 điện, 5 phủ, công đường, nha môn 6 bộ và các trường xưởng nhà trạm. Ông làm quan trải năm đời vua triều Minh là: Thành Tổ, Nhân Tông, Tuyên Tông, Anh Tông, và Cảnh Tông, tính tình liêm khiết rất đáng kính trọng.


Thái giám dưới thời Lê - Trịnh[sửa | sửa mã nguồn]


Thời Lê Dụ Tông, niên hiệu Bảo Thái (1720 - 1729), trong hàng quan lại, ngoài Văn ban và Võ ban, chúa Trịnh còn đặt ra một ban thứ ba là Giám ban với các chức:[3]


  • Tổng thái giám (hàm Chánh tam phẩm)

  • Đô thái giám (Tòng tam phẩm)

  • Thái giám (Chánh tứ phẩm)

  • Thiếu thái giám (Tòng tứ phẩm)

  • Đồng trị giám sự (Chánh ngũ phẩm)

  • Tả hữu thiếu giám (Tòng ngũ phẩm)...

Trong thời kỳ này, hoạn quan được trực tiếp tham gia chính sự, viên chức đứng đầu Giám ban chỉ kém vế hơn Thượng thư (Tòng nhị phẩm) một bậc, còn chức danh Thiếu giám (Tòng ngũ phẩm), một loại quan nhỏ trong Giám ban còn to hơn cả quan Tri phủ tại địa phương (Tòng lục phẩm) đến hai bật.

Theo ký sự của R.P Koffler, một người Pháp đã đến Đại Việtthời kỳ này, có ba viên quan đứng đầu Giám ban giữ những nhiệm vụ hết sức quan trọng: một người quản lý ngân khố triều đình, thu thuế, thanh toán mọi chi tiêu trong cung đình; còn hai người kia phụ trách việc thương mại với người nước ngoài và chỉ có họ mới được phép bán vàng, sắt, ngà voi... cho thương nhân Châu Âu. Điều này chứng tỏ các chúa Trịnh luôn có ý dùng Giám quan làm một lực lượng hậu thuẫn riêng cho mình. Hậu quả của tình trạng đó là sự lộng quyền của nhiều hoạn quan trong triều, điển hình là trường hợp Hoàng Công Phụ, một hoạn quan được phong đến tước Hiệp quận công, đã thao túng việc triều chính, lấn át cả chúa Trịnh Giang khiến một số quan lại ở phủ liêu phải đứng lên truất Trịnh Giang lập em là Trịnh Doanh lên thay và triệt hạ phe cánh Hoàng Công Phụ. Cũng từ đó Giám ban bị bãi bỏ hẳn.[4]


Thái giám dưới thời Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]


Dưới thời Gia Long, vị vua này không có những sửa đổi nào đáng kể trong quy chế hoạn quan. Phải đợi đến ngày 1.2 năm Minh Mạng thứ 17 (17.3.1836), nhà vua mới ban hành một chỉ dụ quan trọng nhằm hạn chế quyền hạn của hàng hoạn quan trong triều đình.[5] Theo chỉ dụ này, hoạn quan phải trở lại với những công việc cố hữu là phục dịch trong cung. Họ không còn được xếp trong ngạch chung của các quan lại mà xếp riêng làm 5 hạng:


  • Hạng nhất (Thủ đẳng) gồm Quảng vụ và Điểm sự thái giám.

  • Hạng nhì (Thứ đẳng) gồm Kiểm sự và Phụng nghi thái giám.

  • Hạng ba (Trung đẳng) gồm Thừa vụ và Điển thắng thái giám.

  • Hạng tư (Ái đẳng) gồm Cung sự và Hộ thắng thái giám.

  • Hạng năm (Hạ đẳng) gồm Cung phụng và Thừa biện thái giám.

Chỉ dụ được ban ra không đầy nữa năm sau khi dẹp xong vụ khởi loạn của Lê Văn Khôi cùng binh lính ở Gia Định thành và truy xét tội của Tả quân Lê Văn Duyệt, nguyên là một thái giám trong phủ chúa Nguyễn Phúc Ánh (thập niên 1780). Điều này cho thấy vua Minh Mạng đã để những ấn tượng về biến cố Gia Định thành chi phối quyết định của mình. Để chỉ dụ được phỉ biến rộng rãi, nhà vua cho khắc vào một bia đá đặt ngay trước Quốc Tử Giám để các giám sinh xem và truyền đạt lại đời sau. Đến cuối thập niên 1910, người ta vẫn còn thấy tấm bia này. Các đời Đồng Khánh (1887), Thành Thái (1895), có những thay đổi nhỏ trong quy chế thái giám, chủ yếu là về lương bổng hàng năm. Riêng đời Thành Thái (1889 - 1907) trong cung có 15 thái giám: 5 người phụ coi lăng tẩm của tiên đế, 2 người phục dịch Hoàng thái hậu, còn 2 giúp các việc trong cung cấm. Đến thời Duy Tân (1914), triều đình tuy không quyết định bãi bỏ hẳn lớp hoạn quan, những vẫn giữ lại những người đương chức và từ đó về sau không tuyển mới nữa.[6]




Trung Quốc là nước đã định chế hóa vai trò của thái giám nhưng tập tục này đã hiện diện trong nhiều quốc gia, nhiều bộ lạc và xã hội có tục đa thê. Người ta thường sử dụng những người bị yêm hoạn làm kẻ hầu người hạ, canh giữ các tì thiếp của vua chúa hay phú gia. Ngày nay, việc giải phẫu cắt bỏ sinh thực khí của mình vì bệnh tật, vì tôn giáo hay vì một quan điểm tính dục nào đó vẫn còn công khai hay lén lút tại một vài nơi trên thế giới.

Theo truyền thuyết, việc cắt bỏ bộ phận sinh dục phái nam đã có rất lâu như một nỗ lực mà người đàn ông muốn trở thành nữ nhân để mong có được khả năng truyền chủng như phụ nữ (womanlike fertility). Tại Trung Đông và một số quốc gia châu Phi có tục cắt da qui đầu vào tuổi dậy thì để đánh dấu sự thành niên của con trai cũng là nhằm bắt chước việc hành kinh của đàn bà và mảnh da đó dùng như một tế phẩm để dâng lên thượng đế (offerings to Yahweh). Người Trung Đông còn quan niệm rằng nếu giữ mình trong sạch thì sẽ dễ được lên thiên đàng và chính vì thế nhiều nam nhân đã tự nguyện được thiến để thành yêm hoạn ngõ hầu được sống đời đời sau khi chết.

Dưới thời Đế quốc La Mã, những thanh niên khỏe mạnh được tuyển chọn để đem thiến đi làm hoạn quan. Ví dụ Bagoas là hoạn thần được Alexander Đại đế sủng ái, còn vua Nero thì có hoạn quan tên là Sporus.

Người Ấn Độ chia người yêm hoạn ra thành ba loại: loại bẩm sinh lúc đẻ ra có dương vật nhưng không có dịch hoàn, loại không có cả dương vật lẫn dịch hoàn và loại trở thành yêm hoạn sau khi giải phẫu. Ở Ấn Độ trước đây có những người đi rong từ vùng này sang vùng khác thiến người khác để kiếm ăn (traveling eunuch-makers). Phương pháp của họ rất giản dị là buộc chặt bộ phận sinh dục bằng một mảnh băng (ligature) rồi cắt xoẹt đi bằng một con dao thật sắc.

Trong thời Trung cổ, một số quốc gia thuộc châu Âu cũng có tục lệ thiến những kẻ bị kết án đa dâm (excessive cupidity) và nhiều giáo sĩ muốn giữ mình trong sạch cũng tự cắt bỏ bộ phận sinh dục để khỏi vướng mắc vào đường tình ái. Những người này được gọi dưới cái tên hesychasti có nghĩa là "kẻ mãi mãi trong sạch".

Nước Ý có thời điểm có đến 4000 người yêm hoạn, nhiều nhất là các tu sĩ Thiên Chúa giáo và chính Giáo hoàng Clement 14 đã phải ra lệnh cấm thi hành hủ tục này. Còn tại Pháp, những người nào tự hủy mình sẽ bị trừng phạt theo hình luật.

Ở Ai Cập và Ba Tư, những ai phạm tội hiếp dâm cũng bị thiến để trừng trị.

Tại một số di tích ở Ai Cập, người ta đã phát hiện được những hình ảnh về những người nô lệ bị hoạn nhằm phục vụ cho những phu nhân của các gia đình giàu có. Những dấu tích đó cho thấy hoạn quan đã từng tồn tại ở Ai Cập cách đây khoảng 4.000 năm. Theo hình luật của Vương quốc Assyrie – khu vực Lưỡng Hà (1450–1250 TCN), nếu người chồng bắt được vợ mình đang ngoại tình với kẻ khác, anh ta có thể trừng phạt kẻ tình địch bằng cách thiến, biến thành hoạn quan.

Một số quốc gia khác thì có tập tục thiến những ca sinh có giọng cao (tenor) trong những ca đoàn tôn giáo để giữ cho những người này khỏi vỡ tiếng khi dậy thì. Những ca sinh đó gọi là castrati được tĩnh thân từ khi còn nhỏ vì người ta tin rằng giọng trong trẻo của họ sẽ khiến cho Thiên Chúa vừa lòng hơn những ca sinh phcon gái, và vì thế trong thời Trung cổ phụ nữ không được gia nhập các ca đoàn này.

Tại Nga, giáo phái tên là Bồ Câu Trắng (White Dove), hay còn gọi là giáo phái Skoptzy do Ssaliwanow sáng lập vào thế kỷ 18, đã khuyến khích giáo đồ tự nguyện cắt bỏ bộ phận sinh dục, coi đó như là một hành vi dâng hiến cho Thiên Chúa. Phương pháp này áp dụng cho cả nam lẫn nữ tín đồ. Nam nhân có thể bị cắt cả sinh thực khí lẫn dịch hoàn hay chỉ một trong hai, còn đàn bà thì cắt bỏ tử cung, ngoại âm thần, nhũ hoa tùy theo mức độ trong sạch mà họ muốn. Những người cắt bỏ hoàn toàn bộ phận sinh dục được mang nhãn hiệu "người mang dấu ấn của Vương triều" (Bearer of the Imperial Seal)...


Nhiệm vụ và đời sống hoạn quan[sửa | sửa mã nguồn]


Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]


Dưới các triều đại phong kiến Trung Quốc cũng như Việt Nam, triều đình có hệ thống quan lại để tham gia làm việc nước, chia làm hai ban văn - võ, từ lớn đến nhỏ gồm cửu phẩm, mỗi phẩm lại phân biệt chánh và tòng, cuối cùng là hạng vị nhập lưu (chưa được liệt vào hạng nào cả). Ngoài ra, trong cấm cung, hoàng gia đông đúc cũng cần người phục vụ công việc hàng ngày và chầu hầu từ nhà vua đến tam cung lục viện. Họ phần lớn thuộc phái yếu gọi là nữ quan, có nhan sắc, được tuyển chọn hàng năm trong dân gian, ai may mắn được lọt vào mắt xanh của nhà vua, được sủng ái và sinh hạ hoàng nam, hoàng nữ thì được cất nhắc dần lên địa vị lục tần, tam phi còn lại đều thuộc hạng thị tỳ và làm việc ở các cơ sở nội đình như nhà kho (cung nô), nhà bếp (cung trù), hay quét tước, coi sóc các cung điện...

Trong cấm thành còn có bao nhiêu công việc mà phái yếu không làm nổi, phải cậy đến phái mạnh. Nhưng một kẻ phái mạnh chính tông mà ở giữa đám phái yếu xinh như hoa, đẹp như mộng thì quá nguy hiểm. Để tránh những sự cố đáng tiếc xảy ra, nhà vua phải cần đến những người đàn ông không còn là đàn ông nữa. Đó là hoạn quan. Tuy nhiên, mặc dù hoạn quan bị mất khả năng sinh dục, họ vẫn có những thèm khát và đòi hỏi, nhất là những người bị thiến sau khi đã đến tuổi trưởng thành. Trong nhiều trường hợp, chính họ là nạn nhân của những cung phi bị dồn nén, nhất là những thái giám còn nhỏ tuổi. Trong một vài triều đại, họ còn được phép ngủ chung với đàn bà trong cung để cho các phi tần có chút khí dương ngõ hầu ít bệnh tật. Đối với những hoạn quan chỉ bị cắt dịch hoàn rất có thể họ vẫn cương cứng được và chính vì thế nhiều lời đồn đãi rằng họ vẫn có thể phục vụ cung nhân...

Những tiểu thái giám xinh đẹp chừng mười mấy tuổi được tĩnh thân để tiến cung gọi là "đồng giám" hay "hài giám" thường được hoàng hậu, quý phi, quý nhân yêu thích. Những đứa trẻ này vì đã tĩnh thân từ khi còn rất nhỏ nên được coi là rất trong sạch chưa vương vấn một ý niệm tính dục nào và thường được cung nhân, phi tần nuôi như như người ta nuôi một con vật yêu thích. Chúng cũng được tự do hơn nghĩa là được vào phục vụ các cung nhân trong khuê phòng hay trong buồng tắm ở những khung cảnh kín đáo nhất. Tuy nhiên khi đã lớn, họ vẫn bị thay thế bằng những thái giám nhỏ tuổi hơn và được điều động ra làm công việc ở bên ngoài khu vực phụ nữ sinh sống.

Nhiệm vụ của hoạn quan là làm đủ thứ việc trong nội cung, như trà nước, xe kiệu, chợ búa, hầu hạ hoàng đế, thái hậu, phi tần, truyền mệnh lệnh vua, liên lạc thông tin và canh phòng, bảo vệ an ninh các cung điện. Thái giám hầu cận bên vua bao giờ cũng được tuyển chọn rất kỹ, còn lại là cung dám làm các việc vặt như quét tước nhà cửa, chăm sóc cây cối, cất giữ hóa phẩm... Như vậy, thái giám là một hệ thống nội quan chỉ phục vụ công việc hàng ngày trong cấm cung, không liên quan gì đến triều đình.

Thế nhưng trong lịch sử, không ít trường hợp ngoại lệ xảy ra, có những người tài năng, nhờ được vua yêu mà lập nên sự nghiệp lẫy lừng, lưu danh muôn thuở; trái lại, cũng có những người dựa thế vua mà khuynh loát cả triều đình, tạo nên cái thế rối loạn, suy sụp. Hoạn quan mỗi khi lấn quyền triều đình thì gây nhiều tai họa, vua Minh Mạng đã cảnh báo trong bài dụ hiện còn ở Văn Miếu, Huế, trong đó có đoạn:


Đời sau dần dần không noi phép cổ, để bọn điêu đang tham chính nắm quyền, không khác cho chúng nắm gươm đằng chuôi, như bọn thập thường thị đời Hán, bọn trung quan đời Đường, bọn tứ hung đời Minh, cho đến lũ Hoàng Công Phụ đời Lê ở nước An Nam; cái thế của chúng nổi lên như lửa, những điều họa hại theo nhau đổ đến. Nguyên do là bởi ông vua đương thời làm đầu têu, thấy chúng dễ sai bảo nên yêu thích, rồi hết sức tin cậy, rốt cuộc quyền thế của chúng đã thành, không thề đè nén được. Dẫm sương biết sẽ có tuyết, gương đã rõ ràng...

Đời sống hoạn quan[sửa | sửa mã nguồn]


Họ sống rất đầy đủ, sung sướng về mặt vật chất, nhưng lại thiếu thốn, đau khổ về mặt tinh thần. Người xưa vốn rất coi trọng nhiệm vụ truyền giống, phê phán, kết tội nặng những kẻ tuyệt chủng, bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại (có ba điều bất hiếu, lớn nhất là không có con nối dõi tông đường), vì thế, họ bị người đời coi thường, khinh rẻ. Sống với mặc cảm ấy, nên họ luôn bị dằn vặt làm cho đau khổ, nhất là đối với những người bất đắc dĩ vướng vào cái nghiệp oan trái này. Đối với tổ tiên, cha mẹ, họ tự coi mình là tội nhân bất hiếu; đối với bản thân, họ không thoát khỏi cái cảnh trăm năm cô đơn, và đến khi nhắm mắt, sẽ trở thành loài ma lang thang, không nơi nương tựa. Vì vậy, họ níu vào chùa để nương nhờ hương khói mai sau và đã có những thời, thái giám trở thành một tầng lớp cách biệt.

Sau khi đã cắt bỏ bộ phận sinh dục, âm nang, âm hành của họ được gọi dưới cái tên bảo cụ sẽ được dùng những kỹ thuật riêng để bảo tồn và coi như một món đồ quý, giữ gìn rất cẩn thận. Trước hết bảo cụ được tẩm vôi bột để cho khỏi thối và hút hết những máu mủ còn trong đó để cho được khô ráo, sau đó dùng vải hay giấy bản lau sạch rồi mới đem ướp trong hương liệu để cho dầu thấm vào, đặt trong bao bằng lụa, cất trong hộp gỗ rồi hàn kín lại. Người ta chọn ngày lành tháng tốt cung kính đưa chiếc hộp đó đến từ đường họ người bị thiến, cung kính treo chiếc hộp đó trên xà nhà. Sau đó mỗi năm, họ lại rút cái hộp đó lên cao thêm một chút, ý chúc tụng cho người bị yêm hoạn phục vụ trong triều đình được thăng quan tiến chức.

Việc gìn giữ "bảo cụ" có hai lý do. Thứ nhất, mỗi khi được thăng thưởng thái giám phục vụ trong cung đình đều phải trình cho thượng quan xem của quý để chứng minh rằng quả thực mình đã được tĩnh thân (nghiệm bảo). Lý do thứ hai, là khi người đó chết đi, lúc tẩm liệm người ta sẽ hạ phần thân thể bị cắt ra còn đang treo trên xà nhà xuống may cho dính lại chỗ cũ, còn tờ tự nguyện yêm cát thư (đơn tình nguyện xin cắt bỏ bộ phận sinh dục) sẽ được đốt trước linh sàng để người chết được khôi phục nguyên trạng ngõ hầu dưới cửu tuyền còn mặt mũi mà nhìn lại cha mẹ tổ tiên và nếu có đầu thai thì kiếp sau cũng được toàn vẹn thân thể.

Chính thủ tục này cũng gây nên nhiều chuyện trớ trêu, hoặc đao tử tượng giữ bảo cụ làm của riêng để sau này bán lại hoặc cho thuê những ai muốn thăng quan nhưng lại không giữ được món đồ của mình vì bị thất lạc hay bị kẻ gian ăn cắp mất. Mỗi khi có biến loạn ở kinh thành, nhiều thái giám đã hoảng hốt chạy đi tìm cái bảo cụ của mình, có khi tranh cướp nhau để mong được chết toàn thây.

Mặc dù bị thiến vẫn có những hoạn quan vẫn hoang tưởng rằng họ có thể "mọc" lại được. Chính vì niềm tin đó, đời Thanh đã có luật lệ rằng tiểu thái giám nhập cung rồi sau ba năm sẽ phải qua một kỳ "tiểu tu", năm năm qua một kỳ "đại tu" để những thái giám chuyên môn xét lại xem ngọc hành có "trùng sinh" hay không. Theo sách Thần Viên Tạp Thức, thái giám thường thích ăn các loại thức ăn tráng dương và dùng những toa thuốc như Mẫu Cẩu Cảnh Tán, Thiên Khẩu Nhất Bôi Ẩm, Ngọc Cảnh Trùng Sinh Phương... để mong trở lại bình thường.

Về phần ngoại mạo, người đã bị yêm cát thay đổi rất nhiều, trở nên có nhiều nữ tính, không mọc râu, không lộ hầu, ngực nhô lên, mông nở, giọng nói the thé, hành động yểu điệu, da dẻ cũng nhẵn nhụi hơn trông chẳng khác gì đàn bà giả đàn ông. Vì hạ thể nở nang (đùi và chân to ra) nên thái giám thường đi chân chữ bát, bước ngắn mà nhanh. Thái giám cũng dễ trở nên phì nộn, mặc dầu da thịt thường nhão nhoẹt nhưng đến già lại teo đi nên những người có tuổi da dẻ lại nhăn nheo hơn bình thường khiến thái giám bốn mươi tuổi trông già như người già tám mươi.

Thái giám thường là đề tài để cho người ta diễu cợt, châm chọc lắm khi rất tàn nhẫn. Ở Bắc Kinh có một khu vực tên là "Thiên Kiều" là nơi có trình diễn những nghệ thuật dân gian, trong đó có một loại hí kịch gọi là "tướng thanh" bao gồm hai người, kẻ xướng người đáp trong đó thái giám thường bị lôi ra làm trò cười.

Người bị thiến ngoài những thay đổi thể chất, tinh thần cũng ảnh hưởng nặng nề và chính vì thế họ trở nên độc ác, nhỏ nhen, tàn nhẫn khác với người thường. Ngoài ra, thái giám vì bị khiếm khuyết các cơ ở hạ bộ nên thường hay bị són nước tiểu ra quần, thành thử nặng mùi nên cũng hay bị chế giễu. Trong một xã hội còn kém văn minh, những người bất hạnh vì cơ thể bị khuyết tật không được xã hội ưu đãi mà thường bị ngược đãi. Hiện tượng đó vẫn còn xảy ra ở một vài nơi trên thế giới...


  • Tạp chí Nghiên cứu và phát triển số 3 (51).2005 do Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên-Huế phát hành.

  • Hoạn-Quan-Thị. Tác giả Bình Giang, Nhà nghiên cứu Hán Nôm, Việt Kiều tại Pháp.

  • Phim Mạt đại hoàng tôn của Hồng Kông: phim có một phần đề cập về cuộc đời một Thái giám trước và sau khi vị Hoàng đế cuối cùng của Trung Hoa bị phế bỏ.


  1. ^ Sách Chu lễ

  2. ^ Hoạn quan trong cung đình xưa - Lê Nguyễn

  3. ^ Lịch triều hiến chương loại chí - Nhà xuất bản Khoa học Xã hội - 1992

  4. ^ Hoạn quan trong cung đình xưa - Lê Nguyễn - tr12 Thế giới mới số 201

  5. ^ Revue indochinoise 1911

  6. ^ Bulletin des Amis du Vieux Hué 1918





Học thuộc lòng – Wikipedia tiếng Việt

Học thuộc lòng là cách ghi nhớ nội dung từng câu từng chữ qua đọc to, thuần thục tới mức có thể đọc lại diễn cảm trước đám đông mà không cần nhìn vào chữ.


Những yếu tố ảnh hưởng đến việc học thuộc lòng[sửa | sửa mã nguồn]


Yếu tố chủ quan[sửa | sửa mã nguồn]


Yếu tố tâm lý[sửa | sửa mã nguồn]


  • Ảnh hưởng tích cực
    • Cảm giác vui vẻ: Cảm giác vui vẻ giúp gạt bỏ những vướng bận tâm lý ngoài xã hội, khiến bạn tập trung vào bài học. Thông tin thu thập được trong một quá trình học tập tập trung không những nhiều (tức là đảm bảo về số lượng) mà còn tồn tại lâu (tức là đảm bảo về chất lượng)

    • Lòng đam mê học hỏi: Lòng đam mê học hỏi giúp người học thuộc lòng cảm thấy hứng thú với kiến thức, khiến quá trình học nhanh hơn.

    • Việc xác định mục tiêu học tập rõ ràng: Xác định mục tiêu học tập rõ ràng giúp người học thuộc lòng nhận thức rõ ý nghĩa việc học của mình. Không chỉ riêng học thuộc lòng mà bất kì công việc gì cũng cần có mục tiêu rõ ràng.

  • Ảnh hưởng tiêu cực
    • Stress: Khi chịu áp lực lớn, việc học thuộc lòng hầu như không đạt hiệu quả.

    • Không có mục đích học (không thấy được ý nghĩa của việc học): Hậu quả của hiện tượng này là kiến thức học được chỉ bằng hoặc ít hơn và không chính xác so với nguồn kiến thức. Kiến thức học được ấy cũng thường chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn.

Yếu tố tư duy[sửa | sửa mã nguồn]


  • Ảnh hưởng tích cực: Những người có tư duy tốt có khả năng nhận ra những đặc điểm của thông tin cần học và mối liên hệ của thông tin với những thông tin khác, nên nhanh chóng ghi nhận được thông tin.

  • Ảnh hưởng tiêu cực: Tư duy yếu khiến thông tin có thể không được đặt vào một chuỗi gắn kết chặt chẽ. Không tư duy khiến thông tin đứng cô lập và dễ lung lay, dễ đổ. Điển hình cho việc học thuộc lòng thiếu yếu tố tư duy là việc học vẹt (rote learning).

Phương pháp học thuộc lòng[sửa | sửa mã nguồn]


Học thuộc lòng thực chất là một quá trình vận động trí não (diễn ra bên trong con người), gồm nhận dạng đặc điểm, tạo mối liên hệ và nhập thông tin vào não. Các phương pháp sau chỉ là quá trình hoạt động bên ngoài:


  • Nhắc lại thông tin nhiều lần

  • Viết lại thông tin nhiều lần

  • Vừa viết vừa nhắc lại thông tin nhiều lần

  • Tập trung vào việc học thuộc lòng, Không làm những việc khác như nghe nhạc, xem phim,...

  • Nếu siêng hơn thì hãy thức dậy vào 5h sáng và ngồi học, ta có thể nhanh thuộc hơn.

Tuỳ vào từng dạng thông tin mà sử dụng phương pháp. Nếu thông tin khó nhớ thì nên dùng phương pháp cuối cùng.
Kết thúc quá trình học thuộc lòng là quá trình vận dụng kiến thức. Nếu kiến thức không được vận dụng thường xuyên, theo thuyết đào thải, nó sẽ mất đi.


Yếu tố khách quan[sửa | sửa mã nguồn]


Phương tiện học thuộc lòng đối với những kiến thức khó[sửa | sửa mã nguồn]


Các kiến thức khó như số liệu, từ vựng,... cần được áp dụng những phương tiện học tập sau:


  • Sổ: Ghi chép lại những công thức của các môn quan trọng

  • Thẻ nhớ: là những mẩu giấy có màu hoặc không có màu cỡ nhỏ

  • Cách sử dụng: ghi chép kiến thức lên mặt giấy, luôn đem theo bên mình, xem lại bất cứ khi nào rảnh rỗi. Việc nhắc lại kiến thức một cách liên tục sẽ giúp bạn nhớ được lâu hơn một chút.

  • Soạn ra 1 lịch học học nhất định với tất cả các môn, 1 môn có thời gian học là 45'

  • Mua những sách nâng cao về làm theo đề bài trong sách, không được mua sách giải sẵn

  • Toán: công thức, định lý, chứng minh định lý

  • Lý: công thức vật lý, ký hiệu, đơn vị

  • Hoá: tính chất hoá học các nguyên tố, các phản ứng đặc biệt, điều kiện của phản ứng

  • Văn: tiểu sử tác giả, thơ, từ Tiếng Việt

  • Anh: từ vựng

  • Sinh: Đặc điểm, chủng loài

  • Sử: mốc thời gian, diễn biến

  • Địa: số liệu, tài liệu

Các môn khoa học khác[sửa | sửa mã nguồn]


  • Thí nghiệm, tìm hiểu

  • Rút ra kết luận

  • Bí quyết học bài mau thuộc (Cao Trí biên soạn)

  • Có thể viết đi viết lại trên giấy rồi đọc theo từng từ




10001

10001

Hello world!

Welcome to WordPress. This is your first post. Edit or delete it, then start writing!